Tổng hợp một số vướng mắc C/O form E

Thời gian qua Admin nhận được nhiều câu hỏi của các bạn liên quan đến C/O form E, đặc biệt về vấn đề C/O bên thứ 3. Admin tổng hợp lại một số vướng mắc về C/O form E đã được Tổng cục Hải quan giải đáp như sau:

1. Khác biệt về mã HS và tên hàng hóa nhập khẩu trên C/O so với mã HS và tên hàng hóa khai báo mà không ảnh hưởng đến bản chất hàng hóa thì cơ quan Hải quan vẫn xem xét, chấp nhận C/O: Công văn số 540/GSQL-GQ1 ngày 05/03/2018 của Cục Giám sát Quản lý – Tổng cục Hải quan;

2. Trường hợp trên ô số 1 của C/O form E ghi người ủy quyền (không phải người xuất khẩu) thì C/O không hợp lệ để được hưởng thuế suất ưu đãi đặc biệt (hải quan từ chối C/O): Công văn số 5467/TCHQ-GSQL ngày 16/9/2013, công văn số 1196/GSQL-TH ngày 09/09/2014 của Tổng cục Hải quan;

3. Người gửi hàng (Shipper) trên vận đơn (B/L) không nhất thiết phải là người xuất khẩu. Do vậy, trên vận đơn thể hiện Shipper khác với người xuất khẩu không phải là căn cứ để hải quan từ chối C/O: Công văn số 3361/HQHCM-GSQL ngày 18/9/2014 của Cục Hải quan TP. Hồ Chí Minh;

4. Thông thường, trị giá ghi trên C/O form E là trị giá FOB. Trường hợp trị giá ghi trên C/O form E bằng với trị giá CIF không phải là căn cứ để hải quan từ chối C/O: Công văn số 978/GSQL-TH ngày 21/07/2014 của Tổng cục Hải quan;

5. C/O form E mà hàng hóa có quá cảnh Hồng Kông trước khi đến Việt Nam thì phải xuất trình vận đơn 2 chặng (chặng từ Trung Quốc đến Hồng Kông và chặng từ Hồng Kông đến Việt Nam) hoặc vận đơn chở suốt từ Trung Quốc đến Việt Nam. Trường hợp chỉ xuất trình vận đơn 1 chặng từ từ Hồng Kông đến Việt Nam thì hải quan từ chối C/O: Công văn số 3679/TCHQ-GSQL ngày 07/07/2010 của Tổng cục Hải quan;

6. Về hóa đơn bên thứ ba trên C/O form E:

Theo công văn số 12149/BCT-XNK ngày 14/12/2012 của Bộ Công thương hướng dẫn về hóa đơn bên thứ ba trong Hiệp định thương mại hàng hóa Asean – Trung Quốc (ACFTA) thì Hóa đơn bên thứ ba là hóa đơn thương mại được phát hành bởi một Công ty có trụ sở tại một Nước thứ ba (Trong hoặc ngoài ACFTA) hoặc bởi một nhà xuất khẩu có trụ sở đặt tại các bên tham gia Hiệp định ACFTA là đại diện cho Công ty đó. Nước thứ ba là Nước/Vùng lãnh thổ phát hành hóa đơn mà không phải là Nước/Vùng lãnh thổ xuất khẩu/nhập khẩu.

Đây là trường hợp xảy ra rất thường xuyên trong thương mại quốc tế, nó phát sinh khi nhà nhập khẩu mua hàng hóa của các doanh nghiệp thương mại (doanh nghiệp không trực tiếp sản xuất ra hàng hóa đó) và doanh nghiệp thương mại này yêu cầu nhà sản xuất trực tiếp giao hàng cho nhà nhập khẩu.

Hầu như  các Hiệp định thương mại đều quy định Cơ quan Hải quan Nước thành viên nhập khẩu phải chấp nhận C/O trong trường hợp hóa đơn bán hàng được phát hành bởi một công ty có trụ sở tại một nước thứ ba không phải là Nước thành viên của Hiệp định hoặc bởi một nhà xuất khẩu thành viên của Hiệp định đại diện cho công ty đó miễn là hàng hóa đáp ứng các quy định về xuất xứ hàng hóa tại các Hiệp định.

Đối với các trường hợp này Người xuất khẩu sẽ đánh dấu vào ô “Third country invoicing” (đối với C/O form AANZ thì đánh dấu vào ô “ Subject of Third – Party Invoice”) và ghi các thông tin như số hóa đơn, tên và nước của công ty phát hành hoá đơn trên C/O, cụ thể:

– Ô số 1 của C/O ghi tên của nhà xuất khẩu;

– Ô số 7 của C/O ghi tên, địa chỉ và nước của người phát hành hóa đơn bên thứ 3;

– Ô số 10 của C/O ghi số và ngày của hóa đơn nước thứ 3.

Ví dụ cụ thể về hóa đơn bên thứ ba và cách thể hiện trên C/O như sau:

Chúng ta xét trường hợp: Công ty bán hàng là một Công ty có trụ sở đặt tại SINGAPORE; Công ty sản xuất là Công ty có trụ sở đặt tại Trung Quốc ( là người đứng tên trên C/O form E); Công ty nhập khẩu là Công ty tại Việt Nam;  Hàng đi trực tiếp từ Trung Quốc về  Việt Nam thì C/O form E bên thứ 3 này được coi là hợp lệ khi:

– Ô số 1: Tên, địa chỉ, nước của công ty sản xuất tại Trung Quốc;

– Ô số 2: Tên, địa chỉ, nước của Công ty nhập khẩu tại Việt Nam;

– Ô số 7: Tên và nước của Công ty đối tác bán hàng tại SINGAPORE (Công ty phát hành hóa đơn bên thứ ba);

– Ô số 10: Số và ngày của hóa đơn thương mại giữa Công ty nhập khẩu tại Việt Nam và Công ty đối tác bán hàng tại SINGAPORE.

– Ô số 13: Tick vào mục Third Party Invoicing.

Hóa đơn thương mại của bên thứ ba (SINGAPORE) phải được nộp cho cơ quan Hải quan khi làm thủ tục. Đối với ví dụ nêu trên, trường hợp bên thứ 3 không không phải tại SINGAPORE mà là một công ty cũng ở Trung Quốc (khác với nhà xuất khẩu/sản xuất)  thì vẫn được hiểu là Hóa đơn bên thứ ba theo hướng dẫn của Tổng cục Hải quan tại công văn số 2706/TCHQ-GSQL ngày 07/06/2011.

Hiện nay, nhiều nhà xuất khẩu của Trung Quốc không xin được C/O nên ủy quyền cho các doanh nghiệp khác cũng của Trung Quốc xin C/O và ghi tên doanh nghiệp được ủy quyền vào ô số 1 của C/O form E, trong khi tất cả các chứng từ khác đều đứng tên nhà sản xuất/người xuất khẩu. Đối với trường hợp này là không hợp lệ và sẽ bị hải quan bác C/O ( hướng dẫn của Tổng cục Hải quan tại công văn số 5467/TCHQ-GSQL ngày 16/9/2013).

7. Về thời điểm nộp C/O form E (hướng dẫn chung, trừ C/O form VK/KV):

– Người khai hải quan nộp bản chính C/O cho cơ quan hải quan tại thời điểm làm thủ tục hải quan để được xem xét hưởng mức thuế ưu đãi theo biểu thuế suất ưu đãi tương ứng. Thời điểm làm thủ tục hải quan được tính từ thời điểm đăng ký tờ khai hải quan đến trước khi hàng hóa được thông quan.

– Trường hợp chưa có bản chính C/O tại thời điểm làm thủ tục hải quan, người khai hải quan phải khai báo việc nộp bổ sung C/O trên tờ khai hải quan và nộp C/O trong vòng 30 ngày kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan. Trong thời gian chưa nộp C/O, người khai hải quan khai báo theo mức thuế suất MFN.

– Ngoài thời hạn nêu trên, cơ quan hải quan chỉ xem xét đề nghị nộp bổ sung C/O trong các trường hợp:

+ Trường hợp thời điểm đăng ký tờ khai hải quan, với mã số HS khai báo, thuế suất MFN thấp hơn hoặc bằng với thuế suất ưu đãi đặc biệt, doanh nghiệp khai thuế suất MFN khi làm thủ tục hải quan, không áp dụng thuế suất ưu đãi đặc biệt. Sau khi hàng hóa đã thông quan, cơ quan hải quan kiểm tra sau thông quan xác đinh lại mã số HS hoặc doanh nghiệp khai bổ sung mã HS,

theo mã HS mới thì thuế suất MFN cao hơn so với thuế suất ưu đãi đặc biệt, doanh nghiệp đề nghị được nộp bổ sung C/O.

+ Trường hợp tại thời điểm đăng ký tờ khai hải quan, hàng hóa thuộc đối tượng theo diện ưu đãi đầu tư được miễn thuế nhập khẩu. Sau khi hàng hóa đã thông quan, cơ quan hải quan kiểm tra sau thông quan (hoặc doanh nghiệp tự phát hiện) xác định hàng hóa không thuộc diện ưu đãi đầu tư, doanh nghiệp đề nghị được nộp bổ sung C/O.

(Công văn số 12802/BTC-TCHQ và công văn số 13959/BTC-TCHQ của Tổng cục Hải quan).

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: